Cách sử dụng các loại thước trong phong thủy

Trong thuật phong thủy học, người ta thường sử dụng 2 loại thước sau:
– Thước mét thường
– Thước đặc dụng được dùng cho việc tính toán các kích cỡ theo quan điểm của phong thủy

thuoc-lo-ban

1. Thước mét thường

Nhà địa lý dùng thước mét để đo đạc xác định các cạnh của thửa đất của ngôi nhà, ngoài ra, họ cần dùng để phân chia vị trí phần đất: tốt, xấu.

2. Thước đặc dụng

Thước đặc dụng có 2 loại mà nhà phong thủy cần đến. Đó là thước phong thủy.
– Thước Lỗ – Ban.

3. Thước phong thủy còn có tên gọi là “thước địa lý”

Nhà phong thủy dùng “thước địa lý” để đo đạc kích cỡ cùng các cơ vận ứng với từng kính cỡ đó.
Thước địa lý có các dữ liệu phong phú với các nguyên lý vận thế và cả Bát quái.

4. Thước Lỗ-Ban

Thước lỗ-ban cũng có nguồn gốc từ Trung Hoa hàng ngàn năm trước Công nguyên và được ứng dụng tới ngày nay.
Thước Lỗ – Ban được ứng dụng rộng rãi trong xây dựng, kiến trúc và chế tác các đồ nội thất do trên các cung phần ứng với một số kích thước nào đó được chỉ rõ tính chất nhất định nào đó. Ví dụ:
Khoảng từ 1 cm đến 5 cm ứng với cung phúc đức.
Khoảng từ 2001 cm đến 2027 cm này với may mắn…
Như vậy dựa vào thước Lỗ – Ban nhà phong thủy gợi ý cho việc mở các cửa ra vào, cửa sổ v.v… theo các kích thước có số đo phù hợp với các cung số mang ý nghĩa mà thân chủ gia trạnh mong muốn.

5. Ngày nay do nhu cầu của xã hội người Việt Nam đã có các thước Lỗ

– Ban ghi cung số bằng tiếng Việt.
Nhờ thế, mọi người dân đều dễ dàng sử dụng thước Lỗ-Ban khi có nhu cầu.
Thước Lỗ-Ban vì thế đã trở thành một thứ thước thông dụng hiện nay. Nhà phong thủy đôi khi dùng thước Lỗ-Ban dễ dàng và tiện lợi trong tác nghiệp nhờ thước đã được Việt ngữ hóa.

Advertisements

Sử dụng la bàn hợp phong thủy

Theo phong thủy học việc sử dụng la bàn để đánh giá về tính chất địa lý của thửa đất là việc cần thiết và việc làm này phải tuân thủ theo các quy tắc sử dụng la bàn.

1. Quy tắc

– Đặt la bàn ở tận điểm thửa đất hay tại tâm ngôi nhà cạnh ngoài của đế la bàn thẳng hàng với một cạnh của thửa đất hay một mặt tường của ngôi nhà. Đế được kê bằng phẳng, vững trãi.
– Xoay mặt la bàn để đường chuẩn trong “Thiên trì” nằm thẳng hàng với kim la bàn. Nhờ vậy để ta xác định được phương hướng, phương vị của thửa đất, hay của ngôi nhà.

sung-la-ban

2. Một số chi tiết cần lưu ý

Mặt la bàn, như đã nói, gồm phân hợp các dữ liệu như Âm lịch. Phương vị, cung số… Âm lịch được biểu hiện bằng các con giáp chỉ 12 năm, ký hiệu bằng các chữ số La Mã (H.1) 12 tháng trong một năm và 12 giờ trong một ngày từ: Tý đến Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Ví dụ chữ số I la mã là Tý, giờ Tý là giờ đầu của ngày (năm Tý năm đầu 12 con giáp cứ lần lượt hết 12 con giáp ứng với chữ số la mã là XII).

Trên mặt la bàn có nhiều vòng, mỗi vòng một dữ liệu. Nó cho ta mối quan hệ rất khoa học. Từ lịch số đến phương hướng và 24 phương vị đến cung Bát quái v.v… Sự phân chia trên mặt la bàn rất khớp các vòng can chi trong một hoa giáp 60 năm và cứ thế lập lại chu kỳ đến hàng nghìn vạn năm luôn biến mãi. Tám phương hướng dựa vào 4 điểm chính. Đó là Đông Bắc, Tây – Bắc, Đông – Nam, Tây – Nam, dựa vào 4 điểm chính theo thứ tự trêm mặt la bàn là các chính phương, Bắc, Đông, Tây, Nam. Như thế các can: “Nhân và Quý” thuộc về hành Thủy, hành Thủy thuộc phương Bắc; phương Bắc là đầu chi trong 12 chi, đó là Tý, ứng số I la mã.

Với sự phức tạp, nhưng đầy khả năng ứng dụng của la bàn Trung Hoa (La bàn tàu) nó có tên là “La bàn vạn năng”.
Để hiểu hiết và dùng được mọi dữ liệu có trêm mặt chiếc la bàn vạn năng, ta cũng cần nhiều kiến thức như tử vi. Thuật số, toán học, thiên văn, dịch lý…

Phong thủy cho bảng hiệu quảng cáo

Trong phong thủy kinh doanh, ta cũng cần phải lưu tâm và chú ý tới sự cân bằng kích thước của các loại biển hiệu.

1. Kích thước của biển hiệu theo đúng phong thủy tức là phải tuân thủ Âm Dương

Ta biết rằng các số chẵn là Âm và các số lẻ là Dương (đã trình bày ở 2 thuyết này). Như vậy ta có:
– Các số thuộc Âm: 2, 4, 6, 8, 10, 12, 14, 16, 18, 20…. 88, 100, 102…
– Các số thuộc Dương. 1, 3, 5, 7, 9, 11, 13… 89, 101, 103….

bien-hieu

2. Vậy các kích thước cần tuân thủ

Chiều dài là Dương thì chiều rộng là Âm.
Ví dụ: chiều dài 89 cm thì chiều rộng là 82 cm, hay chiều dài 202 cm thì chiều rộng là 81 cm… Ta tuân thủ Âm – Dương cân bằng trong sự cân bằng hình học. Thực ra việc thiết lập quan hệ kích thước theo quan điểm hình học gắn kết với kích thước theo Âm Dương không khó.
Ví dụ chỉ dịch nhau 1 cm ở một trong 2 kích thước ấy là ta sẽ có ngay sự liên kết Âm – Dương về kích thước.
– Ngoài sự liên kết về kích thước với nhau, ta còn có thể quan tâm đến tổng số nét từ của các từ (trong bảng) hợp với các số tốt như. 21, 23, 24, 25, 31, 32, 33, 35, 37, 39, 41, 45, 47, 48, 52, 57, 61, 63, 65, 67, 68, 81, 83, 85, 86, 87, 88, 91, 93, 95, 96, 97, 98, 101, 103, 105, 107, 108…
+ Theo quy luật lấy 80 cộng với lần lượt các số trên để có 1 số đẹp có tổng lớn hơn các số đã cho.

3. Cách tính các nét chữ cái theo kiểu chữ cái in hoa:

– Căn cứ vào quy tắc tính nét chữ cái trên, ta có thể tính được tổng số nét của một tên hay một tên biển hiệu để ta có một số biểu lý đẹp như trên đã cung cấp.

4. Tóm lại phép phong thủy khuyên ta, đặc biệt là các doanh nhân, cần coi trọng đến biển hiệu của cơ sở mình. Nó không chỉ có ý nghĩa về màu sắc, kích thước, số nét chữ mà còn ý nghĩa cả sự liên kết Âm dương, Ngũ hành việc hướng treo cũng như quy cách treo biển hiệu cũng không kém phần quan trọng.
– Cụ thể nếu treo biển hiệu ở hướng Đông cần treo cao, biểu hiện mặt trời ở cao.
– Nếu treo ở hướng Đông – Nam ta nên treo ở độ cao trung bình. Ta treo quá cao thì sẽ làm cản khí tốt.
– Biển hiệu nên treo vừa phải ở hướng Nam. Nếu treo cao quá là mạch Dương không tốt.
– Treo biển hiệu cách mặt đất 6m ở phía Tây Nam.
– Cũng cách về khung cảnh như trên, ta treo biển hiệu ở các hướng Tây, Tây – Bắc, Bắc, Đông – Bắc đều nên treo ở độ cao vừa phải để tránh các điều xấu. Nó không mất sự cân bằng, nó không cản trở khí tốt. Mặt khác, nó cần phù hợp các yêu cầu Ngũ hành đã đề cập. Theo Ngũ hành nó phải hợp tương sinh tránh tương khắc đồng thời tuân thủ quy tắc cơ bản cho một biển hiệu như:
Biển hiệu phải đẹp mắt.
– Hình dáng cân đối, cân bằng Âm Dương.
– Tránh hình tam giác, méo, tròn, bầu dục.
– Treo hợp hướng, độ cao.
– Treo vững chắc.
– Chất liệu bền vững.
– Đủ hợp tố màu: 3 hay 5 màu.
– Màu sắc hợp tuổi, hướng khí lợi.
– Treo biển hiệu không lấp cửa chính hay cửa sổ.
– Treo quá thấp vướng tầm nhìn cản luân chuyển khí.

Phân biệt sự khác nhau giữa cung sinh và cung phi

Cung sinh và cung phi là gì? Bài viết này sẽ giúp các bạn hiểu rõ sự giống và khác nhau giữa cung sinh và cung phi.

hieu-dung-ve-menh-cung-sinh-va-cung-phi.png

1. Mệnh cung sinh và mệnh cung phi (Mệnh quái)

Có tới 90% người nhầm lẫn giữa mệnh sinh và mệnh cung hoặc không biết về 2 mệnh này.

Mệnh cung Sinh: Là mệnh mà mọi người hay biết đến (ví dụ sn 1990 – 1991 là mệnh Lộ Bàng Thổ)… được dùng trong xem tử vi hàng ngày, coi bói toán, coi việc xây dựng gia đình. Quy luật những người có cùng năm sinh theo cặp thì mệnh giống nhau, và 60 năm thì lặp lại 1 lần.

Mệnh cung phi (Gọi tắt là mệnh cung): Dựa trên khái niệm Cung Phi Bát Trạch trong Kinh Dịch. Mệnh cung phụ thuộc vào 3 yếu tố là Mệnh, Cung và Hướng. Mệnh cung không chỉ phụ thuộc vào năm sinh mà còn vào giới tính. Nam và Nữ tuy sinh cùng năm âm lịch nhưng sẽ có mệnh cung khác nhau.

2. Khác nhau giữa Mệnh cung sinh và Mệnh cung Phi

Mệnh sinh được gắn với con người từ lúc sinh ra. Do vậy dựa vào mệnh sinh để xem hàng ngày, hay xem 2 người có hợp với nhau để cưới hỏi hay không thì sẽ khá chính xác.

Tuy nhiên, bên cạnh mệnh sinh, mỗi con người lại có một số phận. Mỗi người lại có lục thân khác nhau khiến cho số mệnh của mỗi người đều có biến động. Mệnh cung dựa trên ngũ hành, bát quái, qua đó phản ánh vạn vật trong vũ trụ và sự biến đổi, phát triển của chúng theo thời gian.

Do vậy nếu sử dụng mệnh sinh để chọn lựa màu sắc trong phong thủy thì chưa đầy đủ, thấy gốc mà không thấy ngọn, chỉ thấy điểm bắt đầu mà không thấy sự phát triển.

Nguồn gốc ra đời của thuyết âm dương

Thuyết âm dương bắt nguồn từ đâu?

am-duong.jpg

1. Nguồn gốc

Theo các chuyên gia phong thủy xem tướng người Trung Quốc thì thuyết Âm dương đã được hình thành và bắt nguồn từ thời Hoàng Đế (năm 2879 – 253 trước công nguyên) tương đương với thời 18 đời vua Hùng – Lạc Long Quân và Hùng vương của Việt Nam.

Để minh chứng cho điều này, các nhà phong thủy học Trung Quốc đã dẫn ra trong kinh dịch với sự xuát hiện hào dương (-) và hào âm (- -). Mà trong Bát Quái thì hào Âm và hào Dương đã được nói đến trong sách cổ “Liên Sơn” đời nhà Hạ. Và nữa, trong sách “kinh Sơn Hải” có câu: “Phục Hy (tức vua phục Hy trước vua Thần Nông, Trung Quốc) được Hà Đồ”. Do đó người Hạ gọi “Liên Sơn”.

Sau thời Hoàng đế đầu nhà Hạ, nhà Thương gọi là “Quy Tàng” trong “Liên sơn” có Hà Đồ, sách “bát quái liên sơn” đời nhà Hạ là do hai hào âm và dương cơ bản nhất cấu thành.

2. Những luận cứ

Từ những luận cứ trên mà các học giả Trung Quốc từ cổ chí kim đều thống nhất thuyết Âm dương được hình thành từ đời nhà Hạ là có căn cứ vững chắc.
Về vấn đề thống nhất thuyết Âm dương như thế nào và xác minh nó ra sao là việc của chính các học giả Trung Quốc, ở nơi mà nó ra đời, bàn thảo tiếp. Chúng ta chỉ đề cập để tham khảo mà thôi.